All posts by haovn577

robot-tinh-duc

Tương lai tình dục của con người: Robot có thể là “tình địch”

Bạn sẽ cảm thấy thế nào khi về nhà và thấy bạn tình đang quan hệ tình dục với một con robot? Nếu trí thông minh nhân tạo của robot có thể khiến con người yêu nó thì liệu tỷ lệ sinh sản có giảm đi?

Continue reading

3523032_Sulfur_limonen

Đại học Flinders tạo ra vật liệu loại bỏ thủy ngân trong nước và đất bằng vỏ cam quýt

Các nhà khoa học đến từ đại học Flinders, Úc đã phát hiện ra một phương pháp đơn giản để loại bỏ thủy ngân khỏi môi trường sống bằng việc sử dụng một loại vật liệu được làm từ vỏ cam quýt bỏ đi.

Như đã biết ô nhiễm thủy ngân xuất phát từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Thủy ngân được thải ra môi trường, xâm nhập vào sông ngòi, đại dương và kết quả là nhiều loài động vật ăn thịt mang hàm lượng thủy ngân cao và đặc biệt là những loài cá ăn được sống trong nguồn nước ô nhiễm thường chứa neurotoxin – một loại độc chất gây tổn thương hoặc phá hủy mô trong hệ thần kinh.

Việc loại bỏ thủy ngân từ quá trình xử lý quặng công nghiệp thường đòi hỏi những cỗ máy lớn, phức tạp với hiệu suất khó có thể đạt tối đa và đặc biệt là không phù hợp với môi trường thủy sinh. Giải pháp của đại học Flinders đơn giản hơn, họ tạo ra một chất có thể loại bỏ thủy ngân từ đất lẫn nước và nó được làm từ rác thải hữu cơ tái chế tái sử dụng. Do đó, phương thức này được cho là hiệu quả và bền bỉ hơn để có thể liên tục xử lý ô nhiễm thủy ngân trong môi trường.

3523032_Sulfur_limonen
Sulfur-limonene polysulphide được các nhà khoa học đổ khuôn thành khối gạch Lego.


Chìa khóa của vật liệu mới là sulfur-limonene polysulphide – đây là một loại polymer được tạo ra từ sulfur (lưu huỳnh) vàlimonene - một chất chiết xuất từ vỏ dầu của cam quýt. Cả 2 thành phần này thường là sản phẩm phụ thải bỏ từ các nhà máy sản xuất dầu và trái cây với số lượng hàng chục triệu tấn mỗi năm.

Để khai thác các sản phẩm phụ này, nhóm nghiên cứu đã tìm cách tạo ra nhiều loại polymer chẳng hạn như sơn, nhựa và lớp phủ từ chúng, giảm thiểu việc phụ thuộc vào dầu lửa. Và dựa trên quy trình tái chế và kết hợp chất thải công nghiệp thành sản phẩm hay nguồn năng lượng hữu ích, họ đã dùng sulfur và limonene để tạo ra loại polymer mới nói trên.

Điều ngạc nhiên là vật liệu mà họ tạo ra dường như liên kết rất tốt với các kim loại nặng nhờ ái lực của kim loại. Bằng những hiểu biết của mình, nhóm nghiên cứu đã tìm cách liên kết thủy ngân với chất mới và chỉ trong một lần xử lý, 50% thủy ngân trong nước ô nhiễm đã được loại bỏ. Theo nhóm nghiên cứu, việc xử lý liên tục có thể giảm nồng độ thủy ngân xuống mức cho phép trong nước, có thể uống được.

Một ưu điểm đáng ngạc nhiên nữa khi sử dụng sulfur-limonene polysulphide để hấp thụ thủy ngân là vật liệu này tự thay đổi màu sắc khi nó tiếp xúc với thủy ngân. Điều này có nghĩa, vật liệu có đặc tính tạo màu (chromogenic) và có thể được dùng như một công thụ phát hiện ô nhiễm thủy ngân.

Hiện tại, đại học Flinders đang tìm cách thương mại hóa công nghệ này và họ hy vọng sử dụng vật liệu nói trên để lọc thủy ngân từ đất và nước ngầm cũng như có thể nghiên cứu ứng dụng nó trong các hệ thống lọc nước di động.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng muốn hợp tác với các tổ chức công nghiệp và môi trường để tạo ra vật liệu với số lượng lớn để sử dụng cho các dự án làm sạch ô nhiễm thủy ngân quy mô lớn hơn. Đồng thời, họ cũng đang tìm kiếm cơ hội đầu tư để thành lập một công ty riêng.

Theo: Đại học Flinders
3523029_thuyet_cau_vong_trong_luc_tinhte

LHC sẽ hoạt động ở năng lượng lớn nhất trước giờ, có thể tạo ra lỗ đen, liên hệ với vũ trụ song song

Máy gia tốc hạt lớn LHC sẽ được cho vận hành ở mức năng lượng lớn nhất từ trước đến nay với hy vọng sẽ phát hiện (hoặc thậm chí là tạo ra) một lỗ đen mini. Nếu thành công, một vũ trụ hoàn toàn mới sẽ được tiết lộ, tất cả những quyển sách vật lý và triết học sẽ được viết lại và thậm chí, các nhà khoa học còn cho rằng có thể lực hấp dẫn từ vũ trụ của chúng ta sẽ bị rò rỉ vào vũ trụ song song.

Continue reading

3502703_da_nhan_tao_tinhte_01

Phát triển da nhân tạo giúp người khuyết tật cảm nhận được áp lực cầm nắm đồ vật

Bằng cách tạo ra một loại da nhân tạo, bọc bên ngoài tay chân giả, nhận tín hiệu khi chạm vào và gởi dữ liệu về tế bào thần kinh, các nhà khoa học tại Stanford không chỉ giúp người khuyết tật phục hồi xúc giác mà còn cảm nhận được độ lớn của lực khi tương tác với các vật thể ngoài đời, điều mà hầu hết tay chân giả trước đây chưa làm được.

Continue reading

hinh-anh-4k-cua-sao-moc-duoc-cong-bo-di-kem-la-mot-cham-do-co-lon

Vết đỏ lớn của sao Mộc đang nhỏ dần đi

Vết Đỏ Lớn là một siêu bão với xoáy nghịch trên Mộc Tinh, nằm ở khoảng 22° phía nam xích đạo. Vết Đỏ Lớn dài khoảng 24.000 đến 40.000km và rộng khoảng 12.000 đến 14.000km, cơn bão này đã tồn tại hàng mấy trăm năm nay trên sao Mộc, để dễ hình dung, vết đỏ này có thể chứa 2 Trái Đất bên trong.  Continue reading
thuy_tinh

Các nhà khoa học tình cờ tạo ra loại thủy tinh hoàn toàn mới

Thủy tinh, về bản chất, có tính ngẫu nhiên. Nó được tạo ra thông qua việc làm tan chảy nhiều khoáng chất cùng nhau ở nhiệt độ cao. Thủy tinh có cấu trúc vô định hình, lộn xộn giống như một chất lỏng bị đông đặc bất chợt. Tuy nhiên, một cách tình cờ, các nhà khoa học đã tạo ra một loại thể tinh hoàn toàn mới, với một cấu trúc phân tử có quy tắc.

Continue reading

saotho

Những sự thật thú vị về vũ trụ có thể bạn chưa biết

Cho tới nay, thế giới vũ trụ rộng lớn vẫn còn là chứa đựng nhiều điều bí ẩn mà khoa học hiện đại vẫn chưa khám phá hết. Tuy nhiên với những gì mà chúng ta đã biết về vũ trụ, có khá nhiều sự thật khiến chúng ta phải cảm thấy ngạc nhiên. Dưới đây là danh sách những điều như thế.

Continue reading

thanglenvutru

Vũ trụ đang mở rộng với tốc độ chóng mặt

Số liệu từ kính viễn vọng không gian Spitzer của NASA cho các nhà khoa học cái nhìn chính xác nhất về tốc độ giãn nở của vũ trụ. Theo đó, vũ trụ đang mở rộng với tốc độ nhanh nhất từng được ghi nhận.

Kết quả quan sát của kính viễn vọng Spitzer do Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) phóng đi năm 2003 cho thấy, vũ trụ đang giãn nở với tốc độ 74,3 cộng trừ 2,1km mỗi giây trên khoảng diện tích rộng một megaparsec (tương đương khoảng ba triệu năm ánh sáng). Nó được đánh giá là tốc độ giãn nở nhanh nhất kể từ khi con người phát hiện vũ trụ phình ra từng ngày.

thanglenvutru
Thang đo lường được các chuyên gia sáng tạo nhằm so sánh khoảng cách
giữa các cepheids, giúp xác định chính xác nhất độ giãn nở của vũ trụ.

Vào năm 1920, nhà thiên văn học người Mỹ Edwin P. Hubble là người đầu tiên phát hiện ra vũ trụ của chúng ta không tĩnh. Trên thực tế, ông Hubble đã chứng minh được không gian mở rộng ra rất nhiều kể từ khi nó bắt đầu hình thành kể từ sau vụ nổ Big Bang 13,7 tỷ năm trước. Sau đó, thế giới thêm một lần nữa kinh ngạc khi nghiên cứu năm 1990 của các nhà thiên văn học chứng minh rằng, việc mở rộng của vũ trụ đang tăng tốc từng ngày. Khám phá này đã giành giải Nobel Vật lý năm 2001.

Kể từ khi nhà thiên văn học Hubble phát hiện ra sự giãn nở của vũ trụ, các nhà khoa học luôn cố gắng để đo độ giãn nở của không gian với công thức đo lường mang tên Hằng số Hubble. Tuy nhiên, phép tính này trở nên không thật chính xác sau khi kính thiên văn vũ trụHubble đưa ra những số liệu mới giúp con người hiểu hơn về tuổi và kích thước của khoảng không.

Chuyên gia Wendy Freedman làm việc tại Đài thiên văn Viện khoa học Carnegie tại Pasadena, California chia sẻ: “Hơn một thập kỷ trước đây, khái niệm “chính xác” và “vũ trụ học” không thể tồn tại trong cùng một câu. Tuy nhiên hiện nay, chúng ta có thể xác định được khá chính xác những thông số về vũ trụ, chỉ với một vài % sai số”.

Kết hợp Hằng số Hubble với những thiết bị quan sát vũ trụ tối tân nhất, NASA có thể tính toán chính xác và độc lập về sức mạnh “năng lượng tối”, chống lại trọng lực để kéo rộng vũ trụ ra nhiều hơn so với khi nó được hình thành.

Sở dĩ, con người có thể khám phá được năng lượng tối nhờ kính thiên văn Spitzer sử dụng tia hồng ngoại bước sóng dài có khả năng xuyên qua các đám bụi vũ trụ để đến được những vùng xa xôi nhất của khoảng không. Theo đó, kính thiên văn Spitzer tập trung theo dõi những ngôi sao được gọi là cepheids. Dựa vào thời gian sóng hồng ngoại phản hồi, các nhà khoa học dễ dàng tính được chính xác khoảng cách giữa trái đất và những ngôi sao đó. Khoảng cách xa dần mà các chuyên gia ghi nhận chính là tốc độ giãn nở của vũ trụ.

Hiện tại, Spitzer quan sát 90 ngôi sao tên gọi cepheids với độ chính xác cao hơn nhiều so với những nghiên cứu trước đây. Những thông số chính xác và toàn diện nhất mà Kính thiên văn được phóng vào năm 2003 thu thập cho thấy, vũ trụ của chúng ta đang giãn nở với tốc độ nhanh nhất kể từ khi được phát hiện.