Tag Archives: Câu chuyện khoa học

Khoa học cơ bản và tương lai nước Nga (phần cuối)

Hai tháng sau khi nhận được bức thư ngỏ của trên 200 các nhà khoa học gửi tới lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước, Tổng thống D.A. Medvedev, Thủ tướng V.V. Putin và các lãnh đạo cao cấp khác của chính phủ Nga đã có phản hồi nhanh chóng và đưa ra những chính sách quan trọng về kế hoạch phát triển khoa học, kỹ thuật và giáo dục của đất nước trong những năm tới.

Continue reading

Tiến bộ mới của khoa học thần kinh

Nguyệt san tiếng Pháp La Recherche trong số kỉ niệm 40 năm ngày thành lập (5.1970-5.2010) có nhiều bài ôn lại những tiến bộ khoa học đáng chú ý trong 4 thập kỉ vừa qua.


Sự thống nhất nhiều ngành khoa học về
thần kinh giúp các nhà nghiên cứu hiểu
rõ hơn về não bộ của con người.

Jean-Pierre Changeux, Giáo sư danh dự ở Collège de France, đã trao đổi với La Recherche về các bước tiến quan trọng trong nghiên cứu bộ não con người ở thập niên 2000-2010.

Tiến bộ chính của các khoa học thần kinh trong thập kỷ 2000-2010 là gì?

Nét chính của các khoa học về bộ não trong thập kỷ này là chúng đã phát triển đồng thời trên nhiều mặt, từ sinh học phân tử cho tới khoa học xã hội, qua các nghiên cứu về thần kinh và về quá trình nhận thức, với kỹ thuật ảnh não. Song thay đổi thực sự có tính cách mạng là ở chỗ các chuyên ngành này đã liên kết với nhau để hình thành một khoa học thống nhất về trí óc, Khoa học thần kinh.

Trước kia, mỗi ngành tham gia khảo sát bộ óc một cách riêng rẽ (giải phẫu, sinh lý, hoá sinh, dược học, tâm lý học v.v.). Đầu thế kỉ 21, liên kết này mới bắt đầu được thực hiện, trước hết là do sự phát triển của sinh học phân tử: theo tôi, chuyên ngành này có vai trò chất men vì một bản chất của sinh học phân tử chính là nỗ lực thiết lập các mối tương quan nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức.

Ông có thể cho một ví dụ về vai trò xúc tác của sinh học phân tử?

Hãy xem xét quan niệm của chúng ta về các bệnh tâm thần. Cho tới gần đây, các chứng bệnh như tâm thần phân lập, tự kỷ hay trầm uất chủ yếu vẫn được mô tả bằng các triệu chứng gây ra bởi các yếu tố tâm lý và môi trường. Những dược chất hữu hiệu thực ra là tác động vào mục tiêu nào, người ta không biết rõ. Và người ta đổ lỗi cho tác nhân gây bệnh chính là gia đình và hoàn cảnh xung quanh những người bệnh.

Năm 2001, Daniel Weiberger và nhóm nghiên cứu của ông ở NIH (National Institutes of Health –Viện quốc gia Y học Hoa Kỳ, gồm 20 viện và 7 trung tâm nghiên cứu liên quan đến sức khoẻ con người) đã khám phá ra các gien có thiên hướng dẫn tới bệnh tâm thần phân lập. Năm 2003, một ê-kíp quốc tế trong đó có Thomas Bourgeron ở Viện Pasteur tham gia, đã xác định được những gien đầu tiên liên quan đến chứng tự kỷ. Những gien này có vai trò quyết định trong sự phát triển của các khớp thần kinh, là những nối kết giữa các nơ-rôn (tế bào thần kinh).

Cùng năm ấy, một nhóm nghiên cứu ở Phần Lan đã xác định một gien có trách nhiệm gây ra chứng khó đọc.

Tiếp đó, nhiều gien tương tự được khám phá. Và bây giờ, nhiều bệnh tâm thần được coi là có nguồn gốc di truyền, tức là có một thay đổi rất lớn về quan niệm. Không những gia đình và người bệnh trút bỏ được mặc cảm tội lỗi, mà thay đổi đó còn mở ra những cánh cửa mới trong việc tìm hiểu cơ chế của các bệnh ấy và tìm ra những phương pháp điều trị mới.

Những khám phá này sẽ dẫn tới điều gì?

Một trong những khám phá quan trọng mới đây là sự sinh sôi thường xuyên các tế bào mới thần kinh trong một bộ óc người lớn. Trước đây, người ta tưởng rằng chúng ta sinh ra với một số nơ-rôn nhất định.

Nhưng vào năm 2003, Pierre-Marie Lledo và ê-kíp của ông ở Viện Pasteur đã hiểu được sự phát sinh các nơ-rôn ở cấp tế bào. Họ đã chứng minh được rằng vài loại tế bào thần kinh đệm được biến đổi thành nơ-rôn và những nơ-rôn này phát triển rồi kết nối được không những với những nơ-rôn gần chúng mà với cả một hệ thống chức năng các thần kinh khứu giác: chúng được hấp dẫn tới vùng thành kinh này bởi một phân tử do hành não khứu giác tạo ra.

Năm 2008, cũng ê-kíp này đã chỉ rõ là sự phát sinh nơ-rôn này được tăng lên sau một tai nạn làm thương tổn đến khứu giác. Như vậy là một quan hệ nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức (ở đây là nhận thức về mùi vị) đã được chứng minh. Đó là một bước tiến lớn mở ra viễn tượng phục hồi chức năng: một ngày nào đó, có thể người ta sẽ phục hồi được những nhiều vùng bị thương tổn trong bộ não người với những tế bào gốc, chẳng hạn để điều trị bệnh Alzheimer.

Còn đóng góp của kỹ thuật hình ảnh não?

Về phương diện kỹ thuật, có một sáng tạo đặc biệt đáng chú ý, đó là kỹ thuật chụp ảnh bằng ten-xơ phân phối (1). Kỹ thuật này bắt đầu được sử dụng từ những năm 2000, dù rằng nó đã được Denis Le Bihan, phát triển từ nhiều năm trước.

Le Bihan nay là giám đốc của Phòng thí nghiệm NeuroSpin, thuộc Trung tâm Nguyên tử năng (CEA), Pháp. Kỹ thuật có tính đột phá này dựa trên sự phân phối các phân tử nước trong các mô não, cho phép nhìn trong không gian 3 chiều những kết nối của các vùng não. Nó bắt đầu được sử dụng để nhìn thấy được những hệ thống bị biến đổi sau một tai biến mạch não. Kết hợp với kỹ thuật ảnh cộng hưởng từ chức năng, nó cho phép thấy rằng hai vùng não cùng tham gia vào một nhiệm vụ thị giác luôn luôn có rất nhiều kết nối với nhau, dù rằng cái nhìn đó là tình cờ hay có chủ ý.

Kỹ thuật hình ảnh chức năng đó có phải cũng cho phép khảo sát ý thức?

Đúng vậy, hình ảnh chức năng mở ra khả năng nghiên cứu quá trình ý thức một cách khoa học. Cùng với Stanislas Dehaenne, Giáo sư của Collège de France, (2) chúng tôi đã đề xuất vào năm 1998 một lý thuyết về ý thức mà hình ảnh chức năng cho phép thử nghiệm. Lý thuyết này dựa trên ý tưởng là trong võ não, những nơ-rôn hình tháp với axon dài hợp thành một hệ thống nối kết với nhiều vùng não khác nhau để tạo ra một không gian lao động ý thức. Và sự đồng bộ hoá giữa các nơ-rôn này cho phép ý thức xuất hiện.

Lý thuyết này dẫn tới những thí nghiệm nhằm quan sát các khác biệt trong não giữa những ứng xử ý thức và vô thức. Năm 2001, Stanislas Dehaenne và các cộng sự của ông đã dùng hình ảnh chức năng để chỉ ra rằng chúng ta có thể cảm nhận được ý nghĩa của một từ mà không cần có ý thức là đang trông thấy nó: trong trường hợp này, các vùng não được kích động khác với những vùng não tham gia một xử lý thị giác có ý thức.

Đồng thời, hình ảnh chức năng cũng dẫn tới tiến bộ trong một lĩnh vực khác liên quan tới ý thức, về khả năng đồng cảm (hay tha giác) và các quan hệ xã hội, nhất là qua các công trình của Chris Frith ở UCL, thuộc Đại học Luân Đôn. Chris Frith đã nhận thấy rằng khi hai cá nhân có những rung cảm cộng hưởng với nhau thì các vùng não được kích thích là y hệt nhau và khả năng đồng cảm này không có ở những người bệnh tâm thần phân lập.

Một ví dụ khác, năm 2003, Bruno Wicker, ở Viện nghiên cứu khoa học thần kinh về nhận thức Địa Trung Hải, đã chỉ ra rằng khi một người quan sát một người khác đang bày tỏ một sự chán ghét gì đó, thì người đầu cũng kích thích những vùng não hệt như người kia.

Như vậy, nghiên cứu não bộ về những quan hệ xã hội có thể là một hướng trong tương lai?

Đúng thế, tôi nghĩ rằng đang có những dấu hiệu của một sự tổng hợp mới giữa khoa học thần kinh và các khoa học xã hội và nhân văn, và sự hội tụ này là thiết yếu để chiến thắng các bệnh tâm thần và đưa đến những hiểu biết nhiều hơn về con người.

(1) Nói gọn, đây là một cải tiến của kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (viết tắt tiếng Anh: MRI), sử dụng biến thiên của từ trường để vẽ lên bản đồ phân phối bất đẳng hướng của các phân tử nước trong óc.

(2) «Collège de France» là một Trường đại học nghiên cứu cao cấp rất đặc biệt của Pháp. Các giáo sư được bổ nhiệm vào đó đều là những nhà khoa học đã thành danh (thành viên các Viện hàn lâm khoa học, giải Nobel, giải Fields v.v.), có nhiệm vụ trình bày các « nghiên cứu hiện thời » của mình (không một giáo trình nào được phép lập lại), và người học thì tự do tới nghe giảng và tham dự các thảo luận, xê-mi-na được mở ra. «Trường» không cấp bất cứ một bằng cấp, chứng chỉ học tập nào.

Continue reading

Những điều nên biết về giải Nobel Y học

Alfred Nobel đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu y học. Thông qua Viện Karolinska, ông đã liên lạc với nhà sinh lý học người Thuỵ Điển Jöns Johansson vào khoảng năm 1890. Johansson đã đến làm việc trong phòng thí nghiệm của Nobel ở Sèvran, Pháp trong một khoảng thời gian vào năm đó. Sinh lý học hay Y học là lĩnh vực trao thưởng thứ 3 được Nobel đề cập đến trong di chúc của ông.


Một tấm huy chương giải Nobel được trưng bày. (Ảnh: Postmedia News).

Năm 1901, Emil von Behring Emil von Behring đã được trao tặng giải Nobel đầu tiên về Sinh lý hoc hay Y học vì công trình nghiên cứu về liệu pháp huyết thanh, đặc biệt vì tính ứng dụng của nó trong việc điều trị bệnh bạch hầu. Giải Nobel Y học về sau đã vinh danh hàng loạt khám phá quan trọng bao gồm cả thuốc penicillin, xây dựng bản đồ gen và phân loại máu.

Giải Nobel Y học do Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska trao thưởng hàng năm.

Số giải Nobel Y học

100 giải Nobel Y học đã được trao thưởng kể từ năm 1901. Tuy nhiên, tổng cộng đã có 9 lần giải thưởng đã không được trao tặng vào các năm 1915, 1916, 1917, 1918, 1921, 1925, 1940, 1941 và 1942. Tại sao lại như vậy? Trong quy chế của Quỹ Nobel có nêu rõ: “Nếu không có công trình nào nằm trong diện được xét duyệt, được cho là đủ tầm quan trọng như đề cập trong phần một thì tiền thưởng cho giải sẽ được dành lại cho năm sau. Nếu, ngay cả khi đó, giải thưởng không thể trao tặng được, số tiền thưởng sẽ được cộng dồn vào các quỹ giới hạn của Quỹ Nobel“. Trong Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai, số giải thưởng Nobel có chủ cũng ít hơn.

Những con số thống kê ấn tượng về giải Nobel Y học

37 giải từng được trao cho một người thắng giải duy nhất.

31 giải từng được trao cho hai người đồng thắng giải.

32 giải từng được trao cho ba người đồng thắng giải.

Tại sao lại như vậy? Quy chế của Quỹ Nobel có nêu rõ: Giá trị giải thưởng có thể được chia đồng đều cho hai công trình, mà mỗi công trình được xem là xứng đáng được trao giải. Nếu một công trình được trao giải do 2 hoặc 3 người làm nên thì giải thưởng sẽ được trao chung cho họ. Không có trường hợp nào giá trị giải thưởng bị chia sẻ cho hơn 3 người trúng giải.

Các chủ nhân của giải Nobel Y học

195 cá nhân đã nhận giải Nobel Y học kể từ năm 1901 và không ai trong số này từng được trao giải 2 lần.

Trong số các chủ nhân của giải Nobel Y học, chỉ có 10 người là nữ và Barabara McClintock là nhà nữ khoa học duy nhất không phải chia giải Nobel Y học danh giá với ai.

Cho tới thời điểm hiện tại, chủ nhân trẻ nhất của giải Nobel Y học là Frederick G. Banting. Ông Banting đã được trao giải năm 1923 khi mới 32 tuổi.

Ngược lại, người cao tuổi nhất từng nhận giải là Peyton Rous. Ông trở thành chủ nhân giải Nobel Y học năm 1966 khi đã 87 tuổi.

Người giành giải Nobel Y học sống thọ nhất là Rita Levi-Montalcini. Bà từng trở thành chủ nhân giải Nobel năm 1986 và đã kỉ niệm sinh nhật lần thứ 100 của mình vào ngày 22/4/2009.

Không có giải Nobel Y học nào được trao cho một nhà khoa học đã qua đời. Từ năm 1974, quy chế của Quỹ Nobel khẳng định, không giải Nobel nào được trao cho người đã khuất, trừ khi cái chết đó xảy ra sau khi có tuyên bố họ thắng giải. Trước năm 1974, giải Nobel chỉ được trao cho người đã khuất hai lần: Dag Hammarskjöld (giải Nobel Hoà bình năm 1961) và Erik Axel Karlfeldt (giải Nobel Văn học năm 1931).

Có một nhà khoa học từng bị nhà chức trách nước mình cấm nhận giải Nobel Y học: Trùm phát xít Adolf Hitler đã cấm 3 nhà khoa học Đức nhận giải Nobel, kể cả Gerhard Domagk – người được trao giải Nobel Y học năm 1939. Hai nhà khoa học còn lại đều giành giải Nobel trong lĩnh vực Hoá học là Richard Kuhn năm 1938 và Adolf Butenandt năm 1939. Tất cả những nhà khoa học này sau đó có thể nhận huy chương và bằng chứng nhận đoạt giải Nobel, ngoại trừ tiền thưởng.

Những chủ nhân giải Nobel Y học trong một gia đình

Vợ chồng: Gerty Cori và Carl Cori được đồng trao giải Nobel Y học năm 1947

Cha và con: – Hans von Euler-Chelpin (Nobel Hoá học) và Ulf von Euler (Nobel Y học)

                    – Arthur Kornberg (Nobel Y học) và Roger D. Kornberg (Nobel Hoá học)

Anh em: Jan Tinbergen (Nobel Kinh tế) và Nikolaas Tinbergen (Nobel Y học)

Continue reading

Từ cuộn băng keo tới giải Nobel Vật lý 2010

Hai nhà khoa học Andre Geim và Konstantin Novoselov thuộc trường đại học Manchester (Anh) đã được vinh dự nhận giải Nobel Vật lý 2010 với công trình nghiên cứu tạo ra siêu vật liệu graphene – một loại vật liệu cứng hơn kim cương và có khả dẫn điện và nhiệt cực tốt.


Nghiên cứu về vật liệu graphene đã đem lại giải Nobel cho hai nhà khoa học Nga. (Ảnh: Sciencenews)

Để phát hiện ra vật liệu graphene, các nhà khoa học người Nga đã sử dụng dụng cụ vô cùng đơn giản khiến nhiều người ngạc nhiên đó là những cuộn băng dính. Tiến sĩ Andrei Geim và Konstantin Novoselov cùng các cộng sự tại trường đại học Manchester, đã đặt mảnh than chì lên miếng băng keo, dán hai đầu băng keo lại với nhau, rồi mở băng keo…

Quá trình này được lặp lại nhiều lần làm cho mảnh than chì được tách ra từng lớp, mỏng dần. Sau đó, các nhà khoa nhúng lớp than chì vào silicon, và thu được lớp than chì mỏng nhất, có độ dày của 1 nguyên tử carbon. Kết quả, nhóm nghiên cứu đã tạo ra một loại vật liệu cứng hơn kim cương và có khả dẫn điện và nhiệt cực tốt.

Chúng tôi dùng băng keo để tách graphene ra khỏi graphite trên đầu của một bút chì. Băng keo được dính vào đầu bút chì, rồi được mở ra. Sau đó, chúng tôi lặp lại hành động này khoảng 10 đến 20 lần với hạt nhỏ được tách ra khỏi đầu bút chì”, giáo sư Geim phát biểu trên trang web Sciencewatch mới đây.

Vật liệu graphene được đánh giá còn cứng hơn cả kim cương và cực bền. Một sợi dây thép dài 28km sẽ tự đứt nếu nó được treo theo phương thẳng đứng, trong khi một sợi dây graphene chỉ đứt trong điều kiện tương tự ở độ dài trên 1.000km.

Các nhà khoa học cho rằng trong tương lai, graphene nhiều khả năng sẽ thay thế silicon trong các bóng bán dẫn được sử dụng rất phổ biến trong máy vi tinh và các thiết bị điện tử. Thiết bị bán dẫn làm bằng graphene có tốc độ đóng-mở nhanh gấp 100 lần loại bán dẫn nhạy nhất hiện nay.

Thậm chí, một số quốc gia đã nghĩ tới ý tưởng tạo ra được một “thung lũng graphene” như Thung lũng Silicon ở Mỹ hiện nay. Nếu ý tưởng này thành hiện thực, đây sẽ là tiền đề tạo ra một cuộc cánh mạng mới trong ngành điện tử thế giới.

Theo Vietnamnet

Thành tựu khoa học, công nghệ đóng góp cho phát triển KT-XH

Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ có đóng góp đáng kể cho sự phát triển KT-XH tại Việt Nam trong thời gian qua vừa được giới thiệu tại “Triển lãm giới thiệu thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội” mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long.

Ngành Khoa học Xã hội giới thiệu và trưng bày 21 công trình nghiên cứu khoa học lớn về khoa học xã hội và nhân văn của 17 nhà khoa học nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đã công bố và xuất bản từ năm 2001 đến nay; Bên cạnh đó là 16 công trình nghiên cứu khoa học đồ sộ do hàng trăm các nhà khoa học với 162 tên sách; Hơn 200 đầu sách khoa học chuyên ngành về triết học, lịch sử, văn học, văn hóa học, kinh tế học, xã hội học, khảo cổ, pháp luật, ngôn ngữ, tôn giáo,… Trong đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu như: Sử thi Tây Nguyên (với hơn 70 tập, hàng trăm vạn trang ấn phẩm). Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng tập truyện thơ Nôm, Thác bản Việt Nam, Tổng tập văn học Nôm, Văn bia Việt Nam …

Lĩnh vực khoa học công nghệ có nhiều đóng góp tới sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta, dưới đây là một số thành tựu tiêu biểu.

Nông nghiệp:

Chiếc nôi của những giống lúa mới

Chỉ riêng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã chọn tạo và đưa vào sản xuất 114 giống lúa, trong đó 45 giống được công nhận chính thức. Ngoài ra, hàng năm có hàng chục giống mới triển vọng được đưa vào sản xuất thử nghiệm ở hầu khắp các địa phương trong vùng. Hầu hết các giống lúa do Viện chọn tạo đều có thời gian sinh trưởng ngắn từ 90-100 ngày, đã giúp nông dân trong vùng có điều kiện thâm canh, tăng vụ, né tránh lũ, tăng năng suất và sản lượng. Viện cũng đã kịp thời chọn tạo và phóng thích các giống lúa mới có khả năng chống chịu với rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn đã đáp ứng nhu cầu của sản xuất và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bệnh dịch gây ra. Hiện nay diện tích sử dụng giống lúa do Viện Lúa ĐBSCL chọn tạo đã đạt trên 2,4 triệu ha, chiếm 34,87% diện tích giống lúa của cả nước.

Ngoài ra, Viện còn xây dựng được 11 quy trình kỹ thuật được công nhận ở cấp Quốc gia, trong đó có 5 quy trình kỹ thuật canh tác lúa, 2 quy trình kỹ thuật canh tác cây trồng cạn luân canh với lúa và 4 quy trình phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Các tiến bộ kỹ thuật do Viện phát triển là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp kỹ thuật “Ba giảm, ba tăng” đang được nông dân trồng lúa áp dụng rộng rãi hiện nay…

Y học

Nghiên cứu và sản xuất thành công văcxin phòng bệnh cho trẻ em

Văcxin “ Rotavin-M1” là vắc xin sống giảm độc lực, uống phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 5 tuổi, được sản xuất từ chủng virut rota G1P trên tế bào Vero tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP thuộc Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế – Bộ Y tế.

Continue reading

Tượng giáo sư Ngô Bảo Châu ở Bình Dương

Pho tượng giáo sư Ngô Bảo Châu được đặt tại vị trí trang trọng trong một quán cà phê tại Đất Thủ, tỉnh Bình Dương. Nhiều người nhất là tầng lớp trí thức, sinh viên đã đến ngắm tượng.

Pho tượng giáo sư Châu có tư thế nhìn thẳng về phía trước, bàn tay trái đang chỉnh lại kính, trên tay phải cầm quyển sách, vai trái đeo medal giải thưởng Fields mà giáo sư Châu đã nhận tại Ấn Độ vào tháng 8 vừa rồi.


Pho tượng được nhiều người đến ngắm nhìn. Ảnh: Kiều Trinh.

Tượng có chiều cao gần 3m, chiều ngang gần 1 m. Phần đế được khắc chữ nổi “Giáo sư Ngô Bảo Châu – Huy chương toán học Fields 19.08.2010“.

Theo ông Phùng Minh Tâm, chủ quán cà phê Tình Bằng Hữu nằm trên đường Bác sĩ Yersin, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, đây là món quà sinh nhật lần thứ 42 của mình do một người bạn tặng vào tháng 9 vừa qua. Ông đã quyết định đặt tại quán nhằm cùng người dân trong cả nước tôn vinh những thành quả mà giáo sư Châu đã giành được khi đem về niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam.

Việc đặt tượng tại quán cũng là để mọi người dân, nhất là thế hệ trẻ nhìn đó như là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học của dân tộc Việt Nam“, ông Tâm bày tỏ.

Continue reading

Ông hoàng vật lý lười học khi còn bé

Giáo sư vật lý thiên văn Stephen Hawking là một trong những bộ óc thông thái nhất hành tinh, song tới 8 tuổi ông mới biết đọc và học hành chểnh mảng khi tới trường.


Ông hoàng vật lý Stephen Hawking.

Báo Adelaide Now của Australia cho biết, Hawking diễn thuyết trước những người hâm mộ vào ngày 20/10 trong hội trường Royal Albert tại London, Anh. Trong buổi diễn thuyết ông kể nhiều điều về thời thơ ấu.

Chị gái Philippa biết đọc khi mới 4 tuổi và sau này chị ấy cũng thông minh hơn tôi”, Hawking bắt đầu câu chuyện.

Nhà vật lý thiên văn 68 tuổi thừa nhận rằng khi còn học ở trường phổ thông ông không phải là học sinh nổi trội và luôn xếp ở nửa cuối của lớp về thành tích học tập.

Những bài tập về nhà của tôi luôn được trình bày cẩu thả, còn chữ của tôi thì là nỗi thất vọng của các giáo viên. Nhưng các bạn cùng lớp lại gán cho tôi biệt danh Einstein. Có lẽ họ nhận thấy một thứ gì đó đáng chú ý ở tôi”, ông kể.

Mặc dù được trao bằng xuất sắc của Đại học Oxford danh giá, giáo sư nói với khán giả rằng ông “lười học đến mức khó tin” khi còn là sinh viên. Mỗi ngày Hawking chỉ dành khoảng một giờ để học.

Tôi không tự hào về sự lười học của bản thân mà chỉ mô tả quan điểm học hành của tôi hồi đó”, ông nói.

Ở tuổi 21, Hawking được chẩn đoán mắc chứng liệt cơ bắp do mất các tế bào thần kinh – còn gọi là bệnh Lou Gehrig. Những người mắc bệnh này hầu như mất hết khả năng cử động.

Khi các bác sĩ nói Hawking chỉ còn sống thêm vài năm nữa, ông dồn toàn bộ thời gian và tâm huyết cho các nghiên cứu khoa học. Kết quả là năng suất làm việc của nhà khoa học trẻ tăng vọt và nhiều thành tựu mang tính đột phá. Chẳng hạn, trong khoảng thời gian từ năm 1965 tới 1975, giáo sư Hawking phát triển một giả thuyết mà theo đó các hố đen xuất hiện sau Vụ nổ lớn (sự kiện khai sinh vũ trụ). Ông cũng cho rằng có một loại bức xạ thoát ra từ những ngôi sao chết. Giới khoa học gọi nó là “bức xạ Hawking”.

Khi đối mặt với nguy cơ chết sớm, bạn nhận ra rằng cuộc đời rất đáng quý và có nhiều thứ mà bạn muốn làm”, Hawking khẳng định.

Jim Al-Khalili, giáo sư vật lý của Đại học Surrey tại Anh, cũng tham gia buổi thuyết giảng của Hawking. Ông cho rằng trong trường hợp Hawking không mắc bệnh thì ông cũng vẫn trở thành nhà khoa học vĩ đại.

Điều hiển nhiên là căn bệnh khiến Hawking dành toàn bộ tâm trí cho nghiên cứu khoa học, song nếu không mắc bệnh thì ông ấy vẫn sẽ là một nhà vật lý hàng đầu”, Al-Khalili phát biểu.

Stephen Hawking được coi là ông hoàng vật lý lý thuyết của thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua. Ông nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về hố đen trong vũ trụ. Hawking cũng từng nỗ lực theo đuổi mục tiêu tìm ra một “lý thuyết thống nhất” để giải quyết các mâu thuẫn giữa thuyết tương đối của Albert Einstein và thuyết lượng tử. Hawking từng giữ vị trí giáo sư toán Lucasian tại Đại học Cambridge, Anh. Đây cũng là chức danh mà Newton từng đảm nhiệm. Ông hoàng vật lý nghỉ hưu năm ngoái.

Theo Vnexpress

Lịch sử và những lầm tưởng lớn

Hàng thế kỷ trôi qua và khi lịch sử mất sợi dây nối kết với cội nguồn của nó, các sự thật có thể bị bóp méo, mất mát hoặc loại bỏ. Và đôi khi, ngay cả những nhà sử học cẩn trọng nhất cũng có thể mất đi cái nhìn về sự thật.

Một số truyền thuyết là những giai thoại chỉ đơn thuần gia tăng thêm màu sắc cho một nhân vật nổi tiếng. Chẳng hạn như, chúng ta đã nghe tất cả George Washington có răng bằng gỗ. Trong thực tế không phải vậy dù ông có mang răng giả.

Tuy nhiên, một số chuyện hoang đường khác khác lại tập trung tô vẽ câu chuyện về một nhân vật lịch sử nhiều đến mức xa rời thực tế. Ví dụ như, Isaac Newton đã không phát hiện ra lực hấp dẫn sau khi bị một quả táo rơi trúng vào đầu. Dẫu vậy, do Newton thường sử dụng táo như là công cụ để giải thích lực hấp dẫn nên chúng ta mới có câu chuyện nhầm lẫn về sự ra đời của định luật vận vật hấp dẫn. Hãy cùng tạp chí Discovery điểm lại một số lầm tưởng lớn về lịch sử thế giới.

Marco Polo đã tới châu Á

Marco Polo đã tới châu Á

Theo một nhóm các nhà khảo cổ học Italia, nhà thám hiểm lừng danh Marco Polo chưa bao giờ tới châu Á. Thay vào đó, những câu chuyện về chuyến du hành của Marco Polo tới châu Á chỉ là chuyện thêu dệt từ các bạn thương nhân mà ông đã gặp ở Hắc hải.

Một bài báo trên tờ Daily Mail thậm chí còn nhấn mạnh, Marco Polo, nhà thám hiểm nổi tiếng với cuộc hành trình huyền thoại vào khu vực châu Á, thực chất chỉ là một “kẻ bịp bợm” vì dường như chính ông đã dựng chuyện về thành tích của mình.

Napoleon là người lùn

Napoleon là người lùn

Nếu thuộc dạng “thấp bé nhẹ cân”, nhiều người sẽ cảm thấy được an ủi khi được người khác ví là có tầm vóc của Napoleon (Bonaparte) – vị tướng và hoàng đế huyền thoại của Pháp, nhân vật được cho là có cơ thể nhỏ bé nhưng được bù đắp bằng tham vọng và tài năng hơn người. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Napoleon không hề thấp. Trong thực tế, ông chỉ được ghi nhận là có chiều cao 1m57 theo một hệ thống đo đếm kiểu cũ của Pháp, nhưng khi quy đổi tương đương sang tiêu chuẩn hiện đại thì phải đạt 1m68 – mức chiều cao không thể được quy là lùn đối với một nam giới thuộc thế hệ của ông.

Benjamin Franklin khám phá ra điện

Benjamin Franklin khám phá ra điện

Benjamin Franklin xứng đáng được tôn phong với nhiều danh hiệu. Ông là một trong những người sáng lập ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, một nhân vật chủ chốt của thời kỳ khai sáng, một nhà ngoại giao và còn nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, có một thành tựu thường bị gắn nhầm với Franklin là việc ông đã khám phá ra điện. Mặc dù là một nhà khoa học tài năng đã tiến hành thí nghiệm về điện nhưng Franklin không phải là đầu tiên mô tả hoặc phát hiện các thuộc tính của điện và từ tính.

Việc mô tả đầu tiên về từ tính đã có từ cách đây gần 2.600 năm, khi triết gia kiêm nhà toán học người Hy Lạp Thales thành Miletus quan sát được sắt bị hút vào một cục nam châm nhưng lại quy hiện tượng đó là do kim loại có linh hồn. Những nỗ lực đầu tiên nhằm giải thích lực hút này bằng các căn cứ khoa học đã xuất hiện hàng trăm năm sau đó. William Gilbert, một nhà khoa học Anh sống trong thế kỷ 16 và được Galileo hết lời ca ngợi, đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản của điện và từ tính, kể cả việc bản thân Trái đất đã sản sinh ra một từ trường.

Albert Einstein thuở nhỏ dốt toán

Albert Einstein thuở nhỏ dốt toán

Chúng ta vẫn thường bị huyễn hoặc rằng, Albert Einstein – một người tiên phong trong lĩnh vực vật lý hiện đại, cha đẻ của thuyết tương đối và một trong những bộ óc vĩ đại nhất của mọi thời đại, học dốt toán khi còn nhỏ. Thực tế không phải vậy. Theo thú nhận của chính Einstein, ông từng cân nhắc trở thành nhà toán học thay vì muốn làm chuyên gia vật lý. Vậy sự lầm tưởng bắt nguồn từ đâu?

Tiến sĩ Karl S. Kruszelnicki, một nhà bình luận khoa học nổi tiếng trên kênh phát thanh và truyền hình Australia, nhận định nó có thể đơn giản xuất phát từ hệ thống cho điểm khi Einstein còn đi học. Thời điểm Einstein còn ngồi trên ghế nhà trường, hệ thống đánh giá xếp hạng học sinh theo một thang điểm từ 1 đến 6, trong đó 1 là mức điểm cao nhất và 6 là thấp nhất. Không lâu sau khi Einstein rời trường, hệ thống chấm điểm này bị đảo ngược với 6 là mức điểm cao nhất mà một học sinh có thể giành được. Do đó, bất kỳ ai nhìn vào bảng điểm của Einstein sau sự thay đổi này có thể có ấn tượng rằng ông là một học sinh kém theo hệ thống chấm điểm hiện đại hơn.

Các kim tự tháp Giza do nô lệ xây dựng

Các kim tự tháp Giza do nô lệ xây dựng

Có thực các lao động nô lệ đã tạo dựng nên các kim tự tháp Giza lừng danh? Mặc dù đó là một phần ghi chép phổ biến về sự ra đời của các hầm mộ dành cho hoàng gia Ai Cập cổ đại này nhưng nơi chôn cất những người xây dựng kim tự tháp lại hé lộ rằng họ là những công nhân được trả lương và được kính trọng vì công việc của mình. Herodotus, nhà sử học Hy Lạp cổ đại, đã tạo ra lầm tưởng rằng các nô lệ đã xây dựng các kim tự tháp và huyền thoại này tiếp tục bị khuếch đại trong sách vở và phim ảnh hư cấu của tương lai.

Nữ hoàng Cleopatra tự sát bằng cách cho rắn độc cắn

Nữ hoàng Cleopatra tự sát bằng cách cho rắn độc cắn

Sau cái chết của người tình Marc Antony và thất bại không thể tránh khỏi trước người La Mã do Octavian Caesar lãnh đạo, nữ hoàng Ai Cập Cleopatra đã tự sát bằng cách cho phép một con rắn độc cắn mình. Đây là phần ghi chép được đông đảo chấp nhận về những khoảnh khắc cuối cùng của Cleopatra, nhưng câu chuyện thực tế có thể phức tạp hơn nhiều.

Trong thực tế, theo tác giả cuốn “Cleopatra: Nữ hoàng cuối cùng của Ai Cập”, một vết rắn cắn là một phương pháp tự tử đầy rủi ro với xác suất thất bại cao. Thêm vào đó, việc đưa lậu rắn qua mặt Octavian, kẻ đã ra lệnh cho các lính canh phải cảnh giác việc Cleopatra tự tử, sẽ rất khó khăn. Hơn nữa, không có bất kỳ con rắn nào từng được tìm thấy.

Các sự kiện này chắc chắn đã làm tăng thêm kịch tính cho cái chết của Nữ hoàng Ai Cập. Tuy nhiên, theo một nhà sử học Đức, người đã nhờ tới sự trợ giúp của một chuyên gia chất độc trong nghiên cứu của mình, một ly rượu độc hỗn hợp nhiều khả năng nhất là nguyên nhân khiến Cleopatra tử vong.

Cassius Dio, một nhà sử học La Mã sống sau Cleopatra 200 năm, mô tả cái chết của bà là yên bình và không đau đớn. Với các triệu chứng của một vết rắn cắn bao gồm nôn mửa và suy hô hấp thì một ly thuốc độc dường như phù hợp hơn với chi tiết này.

Mozart và Salieri là “kẻ thù không đội trời chung”

Mozart và Salieri là "kẻ thù không đội trời chung"

Lâu nay, nhiều người vẫn cho rằng Antonio Salieri và Wolfgang Amadeus Mozart là những kỳ phùng địch thủ căm ghét nhau đến nỗi nhà soạn nhạc Italia đã rắp tâm giết hại thần đồng âm nhạc Áo. Tuy nhiên, trong thực tế có rất ít bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa hai nghệ sĩ tài danh này đặc biệt gay gắt. Mặc dù Mozart công khai đả kích Salieri nhưng các ghi chép từ thời đại của hai người dường như chỉ ra rằng Salieri ủng hộ công việc của Mozart.

Tin đồn rằng Salieri đầu độc Mozart có thể bắt nguồn từ chính bản thân nhà soạn nhạc Italia. Rất lâu sau khi Mozart qua đời, Salieri – khi đó đã già cả – đã “tự cáo buộc bản thân đầu độc Mozart” vào năm 1823. Giuseppe Carpani, một người bạn của Salieri, đã thuê một bác sĩ tìm hiểu sự việc và Salieri cuối cùng được giải oan.

Dẫu vậy, sự hiểu lầm còn mãi. Ra đời năm 1830, chỉ 5 năm sau cái chết của Salieri, vở kịch opera “Mozart và Salieri” đã làm sống dậy những đồn thổi và hư cấu về cách thức một Salieri đầy ghen tị đã âm mưu hủy hoại một Mozart tài năng như thế nào. Những khắc họa về sau về mối quan hệ giữa hai nhà soạn nhạc tiếp tục lấy cảm hứng từ vở opera trên và truyền thuyết về sự đối đầu không bao giờ mất đi.

Quý bà Godiva khỏa thân chống sưu thuế nặng

Quý bà Godiva khỏa thân chống sưu thuế nặng

Quý bà Godiva là một phụ nữ quý tộc Anh hồi thế kỷ 11 và tên tuổi còn được nhắc đến mãi về sau vì một lý do: Theo truyền thuyết, bà đã đi khắp các lãnh địa của chồng mình ở Coventry, Anh trong trạng thái khỏa thân nhằm phản đối việc sưu cao thuế nặng. Tuy nhiên, các nhà sử học thời trung cổ đều nhất trí với nhau rằng chuyến đi như vậy nhiều khả năng chưa bao giờ xảy ra. Truyền thuyết chỉ xuất hiện khoảng 200 năm sau cái chết của Godifu – một phụ nữ quý tộc được cho là nguyên mẫu của Quý bà Godiva. Dẫu vậy, huyền thoại về Quý bà Godiva ra đời như thế nào và tại sao tên tuổi của bà lại gắn với lịch sử hiện vẫn còn là một bí mật.

Theo Vietnamnet

Những nhà phát minh dính nghi án “đạo” ý tưởng

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, Galileo Galilee có thể không phải là người phát minh ra kính viễn vọng, Alexander Fleming không phải người đầu tiên khám phá ra penicillin và Graham Bell rốt cuộc có thể không sáng chế ra điện thoại,… Hãy cùng trang Cracked điểm lại một số tên tuổi lớn bị nghi ngờ là những nhà phát minh ăn cắp ý tưởng.

Galileo Galilee

Galileo Galilee thường được biết đến như một nhà thiên văn học kiêm nhà vật lý học và toán học lừng danh người Italia. Nếu hỏi bất kỳ học sinh trung học bình thường nào về đóng góp để đời của Galileo cho khoa học thì câu trả lời nhận được đa phần là “kính viễn vọng”. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy Galileo đã không phát minh ra dụng cụ này.

Vậy ai thực sự là người đầu tiên sáng chế ra kính viễn vọng?
Vậy ai thực sự là người đầu tiên sáng chế ra kính viễn vọng?

Mặc dù mọi người đều hướng quan sát các vì sao trên bầu trời nhưng không có ai làm việc đó nghiêm túc và đầu tư nhiều công sức như một người Hà Lan có tên Hans Lippershey. Năm 1608, Lippershey đã hoàn tất chiếc kính viễn vọng đầu tiên trên thế giới và dự định xin cấp bằng sáng chế cho phát minh này, nhưng đã bị từ chối vì một lý do không rõ ràng nào đó.

Ở cách đó vài nước, khi Galileo nghe về công trình của Lippershey, ông đã nhanh chóng chế tạo kính viễn vọng của mình vào năm 1609. Và điều cần lưu ý ở đây là, mẫu kính viễn vọng của Galileo chỉ có thể nhìn xa hơn chút ít so với sáng chế của Lippershey.

Một điểm đặc biệt nữa là, mặc dù Galileo chưa bao giờ đăng ký bản quyền tác giả kính viễn vọng nhưng tên tuổi của ông luôn đồng nghĩa với việc phát minh ra dụng cụ này, trong khi tên của Lippershey gần như vắng bóng khỏi các sách giáo khoa cũ. Thêm vào đó, 4 mặt trăng bao quanh sao Mộc được đặt tên theo Galileo trong khi chỉ có một hố trên Mặt trăng của Trái đất được gọi là Lippershey.

Alexander Fleming

Alexander Fleming là cái tên mọi người thường nghĩ đến khi nhắc tới thuốc penicillin. Thậm chí còn có cả một câu chuyện hấp dẫn đi kèm với nó. Theo giai thoại, cha của Fleming đã cứu một cậu bé khỏi chết đuối ở Scotland, và cha của cậu bé này đã cam kết sẽ tài trợ cho việc học hành của Fleming để trả ơn. Cuối cùng, Fleming tốt nghiệp trường y và phát hiện ra bản chất chữa bệnh của penicillin, vốn về sau giúp cứu mạng Winston Churchill – Thủ tướng Anh thời Thế chiến thứ hai khi ông bị viêm phổi. Và Winston Churchill cũng chính là cậu bé từng được cha của Fleming cứu sống thuở nào.

Alexander Fleming

Tuy nhiên, tất cả những điều trên chỉ là hư cấu vì Churchill không được chữa trị bằng thuốc penicillin và quan trọng hơn, Fleming không phải là người khám phá ra loại thuốc này.

Vậy trong thực tế, ai là người đầu tiên phát hiện ra penicillin? Rất khó để có câu trả lời chính xác. Các thổ dân ở Bắc Phi đã sử dụng penicillin hàng ngàn năm qua.

Ngoài ra, năm 1897, Ernest Duchesne từng sử dụng nấm mốc penicillium để chữa trị bệnh thương hàn ở các con chuột lang – một thí nghiệm cho thấy ông hiểu được các khả năng của penicillin. Vào thời điểm đó, các nhà khoa học khác đã không xem xét công trình của Duchesne một cách nghiêm túc vì tuổi tác của ông cũng như sự quan tâm kỳ lạ của nhà khoa học này với những con chuột lang. Do đó, Duchesne chưa bao giờ nhận được bằng sáng chế cho phát hiện của mình. Ông qua đời khoảng 10 năm sau đó vì một căn bệnh hoàn toàn có thể được chữa khỏi bằng penicillin.

Ngay cả khi Fleming vô tình phát hiện ra penicillin nhiều năm sau đó, ông cũng từng không tin nó có thể thực sự giúp ích được ai đó. Vì vậy, ông đã ngừng nghiên cứu về nó. Trong khi đó, một số ít nhà khoa học khác như Howard Florey, Norman Heatley, Andrew Moyer và Ernst Chain đã bắt đầu nghiên cứu về penicillin. Họ cuối cùng đã làm chủ được penicillin cũng như tìm ra một cách để sản xuất nó hàng loạt.

Thực tế là, mặc dù Fleming không phải là người đầu tiên phát hiện ra penicillin cũng như không thực sự tin vào sự hữu ích trong chữa bệnh của loại thuốc này nhưng tên tuổi của ông vẫn đi vào lịch sử như người đã khám phá ra penicillin và cứu sống Winston Churchill.

Alexander Graham Bell

Alexander Graham Bell, người có tên tuổi gắn liền với sự ra đời của điện thoại, rốt cuộc không phải là người phát minh ra vật dụng hữu ích này. Năm 1860, một người Italia có tên là Antonio Meucci lần đầu tiên công bố chiếc điện thoại có thể hoạt động của ông với tên gọi “teletrofono”. 11 năm sau (tức là 5 năm trước khi điện thoại của Bell xuất hiện), Meucci đã đệ đơn xin cấp bằng sáng chế tạm thời cho phát minh của mình. Nhưng đến năm 1874, Meucci đã không nộp được 10 USD cần phải có để gia hạn bằng sáng chế vì lúc này ông đang ốm yếu và nghèo khó.

Alexander Graham Bell

2 năm sau đó, Bell đăng ký bản quyền sáng chế điện thoại. Tất nhiên, khi đó, Meucci đã cố gắng khởi kiện bằng cách lấy lại các phác thảo và kế hoạch ban đầu mà ông đã gửi đến một phòng thí nghiệm tại Western Union, nhưng đáng ngạc nhiên là tất cả những hồ sơ này đều biến mất. Lúc đó Bell đang làm việc ở đâu? Một sự trùng hợp kỳ lạ là chính tại phòng thí nghiệm mà Meucci thề đã gửi các phác thảo của ông tới đó. Cuối cùng, Meucci chết trong hoàn cảnh không một xu dính túi và tên tuổi dần đi vào quên lãng.

Liệu Bell, với vị trí thuận lợi của mình tại Western Union, có hủy hoại các hồ sơ của Meucci để có thể tuyên bố điện thoại là sáng chế của mình hay không? Rất khó để có câu trả lời. Một số người nghi ngờ là “có”, số ít khác lại nhận định “có thể”. Điều đó sẽ có lý khi chúng ta nhìn vào thực tế rằng: Bell là người làm nên nhiều sáng chế quan trọng và không hẳn bất hợp lý khi cho rằng ông có thể đã trở nên tham lam và không muốn chứng kiến bất cứ ai khác thành công. Hơn nữa, tại sao Bell lại cần có điện thoại trong khi cả vợ và mẹ ông đều bị điếc?

Thomas Edison

Thomas Edison - “thầy phù thủy ở Menlo Park” được coi là một trong những nhà phát minh giàu ý tưởng nhất trong lịch sử thế giới với kỷ lục nắm giữ 1.093 bằng sáng chế ghi tên ông. Một số phát minh được gán cho Edison tuy ông không hoàn toàn là người đầu tiên có ý tưởng về chúng. Tuy nhiên, sau khi các bằng sáng chế ban đầu được thay đổi, chúng trở thành của Edison (nổi tiếng nhất là bản quyền phát minh bóng đèn) dù trên thực tế là kết quả phát minh của rất nhiều người trong công ty của ông.

Đối với trường hợp bóng đèn, ai mới là người thực sự phát minh ra thiết bị chiếu sáng này?
Đối với trường hợp bóng đèn, ai mới là người thực sự phát minh ra thiết bị chiếu sáng này?

Rất nhiều người đã có ý tưởng chế tạo bóng đèn như Jean Foucault, Humphrey Davy, J.W. Starr,… nhưng Heinrich Goebel có lẽ là người đầu tiên thực sự phát minh ra nó vào năm 1854. Goebel đã cố gắng bán phát minh cho Edison nhưng bị từ chối với lý do Edison không thấy sự hữu ích trong sáng chế của Goebel. Không lâu sau đó, Goebel qua đời và cũng một thời gian ngắn sau, Edison đã mua lại phát minh của Goebel từ người vợ góa nghèo khổ của ông với giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực của nó.

Sau Goebel và một năm trước khi Edison “phát minh” ra bóng đèn của mình, Joseph Wilson Swan đã phát triển và xin cấp bằng sáng chế cho một bóng đèn có thể hoạt động được. Khi biết chắc không thể thắng kiện Swan trước tòa, Edison đã mời ông trở thành một đối tác, thành lập nên Công ty liên danh Ediswan và mua lại phát minh của Swan.

Một cách nhanh chóng, Edison giành thêm nhiều quyền lực và bỏ tiền mua chuộc, buộc Swan từ bỏ hoàn toàn mọi hồ sơ liên quan đến bóng đèn cho công ty Edison. Chắc chắn Swan được đền bù nhiều tiền, nhưng bằng cách mua lại toàn bộ hồ sơ, Edison đã đưa tên của ông trở thành nhà phát minh duy nhất trong bằng chứng nhận sáng chế bóng đèn.

Theo Vietnamnet