Tag Archives: Câu chuyện khoa học

Từ cuộn băng keo tới giải Nobel Vật lý 2010

Hai nhà khoa học Andre Geim và Konstantin Novoselov thuộc trường đại học Manchester (Anh) đã được vinh dự nhận giải Nobel Vật lý 2010 với công trình nghiên cứu tạo ra siêu vật liệu graphene – một loại vật liệu cứng hơn kim cương và có khả dẫn điện và nhiệt cực tốt.


Nghiên cứu về vật liệu graphene đã đem lại giải Nobel cho hai nhà khoa học Nga. (Ảnh: Sciencenews)

Để phát hiện ra vật liệu graphene, các nhà khoa học người Nga đã sử dụng dụng cụ vô cùng đơn giản khiến nhiều người ngạc nhiên đó là những cuộn băng dính. Tiến sĩ Andrei Geim và Konstantin Novoselov cùng các cộng sự tại trường đại học Manchester, đã đặt mảnh than chì lên miếng băng keo, dán hai đầu băng keo lại với nhau, rồi mở băng keo…

Quá trình này được lặp lại nhiều lần làm cho mảnh than chì được tách ra từng lớp, mỏng dần. Sau đó, các nhà khoa nhúng lớp than chì vào silicon, và thu được lớp than chì mỏng nhất, có độ dày của 1 nguyên tử carbon. Kết quả, nhóm nghiên cứu đã tạo ra một loại vật liệu cứng hơn kim cương và có khả dẫn điện và nhiệt cực tốt.

Chúng tôi dùng băng keo để tách graphene ra khỏi graphite trên đầu của một bút chì. Băng keo được dính vào đầu bút chì, rồi được mở ra. Sau đó, chúng tôi lặp lại hành động này khoảng 10 đến 20 lần với hạt nhỏ được tách ra khỏi đầu bút chì”, giáo sư Geim phát biểu trên trang web Sciencewatch mới đây.

Vật liệu graphene được đánh giá còn cứng hơn cả kim cương và cực bền. Một sợi dây thép dài 28km sẽ tự đứt nếu nó được treo theo phương thẳng đứng, trong khi một sợi dây graphene chỉ đứt trong điều kiện tương tự ở độ dài trên 1.000km.

Các nhà khoa học cho rằng trong tương lai, graphene nhiều khả năng sẽ thay thế silicon trong các bóng bán dẫn được sử dụng rất phổ biến trong máy vi tinh và các thiết bị điện tử. Thiết bị bán dẫn làm bằng graphene có tốc độ đóng-mở nhanh gấp 100 lần loại bán dẫn nhạy nhất hiện nay.

Thậm chí, một số quốc gia đã nghĩ tới ý tưởng tạo ra được một “thung lũng graphene” như Thung lũng Silicon ở Mỹ hiện nay. Nếu ý tưởng này thành hiện thực, đây sẽ là tiền đề tạo ra một cuộc cánh mạng mới trong ngành điện tử thế giới.

Theo Vietnamnet

Thành tựu khoa học, công nghệ đóng góp cho phát triển KT-XH

Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ có đóng góp đáng kể cho sự phát triển KT-XH tại Việt Nam trong thời gian qua vừa được giới thiệu tại “Triển lãm giới thiệu thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội” mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long.

Ngành Khoa học Xã hội giới thiệu và trưng bày 21 công trình nghiên cứu khoa học lớn về khoa học xã hội và nhân văn của 17 nhà khoa học nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đã công bố và xuất bản từ năm 2001 đến nay; Bên cạnh đó là 16 công trình nghiên cứu khoa học đồ sộ do hàng trăm các nhà khoa học với 162 tên sách; Hơn 200 đầu sách khoa học chuyên ngành về triết học, lịch sử, văn học, văn hóa học, kinh tế học, xã hội học, khảo cổ, pháp luật, ngôn ngữ, tôn giáo,… Trong đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu như: Sử thi Tây Nguyên (với hơn 70 tập, hàng trăm vạn trang ấn phẩm). Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Tổng tập văn học dân gian người Việt, Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng tập truyện thơ Nôm, Thác bản Việt Nam, Tổng tập văn học Nôm, Văn bia Việt Nam …

Lĩnh vực khoa học công nghệ có nhiều đóng góp tới sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta, dưới đây là một số thành tựu tiêu biểu.

Nông nghiệp:

Chiếc nôi của những giống lúa mới

Chỉ riêng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã chọn tạo và đưa vào sản xuất 114 giống lúa, trong đó 45 giống được công nhận chính thức. Ngoài ra, hàng năm có hàng chục giống mới triển vọng được đưa vào sản xuất thử nghiệm ở hầu khắp các địa phương trong vùng. Hầu hết các giống lúa do Viện chọn tạo đều có thời gian sinh trưởng ngắn từ 90-100 ngày, đã giúp nông dân trong vùng có điều kiện thâm canh, tăng vụ, né tránh lũ, tăng năng suất và sản lượng. Viện cũng đã kịp thời chọn tạo và phóng thích các giống lúa mới có khả năng chống chịu với rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn đã đáp ứng nhu cầu của sản xuất và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bệnh dịch gây ra. Hiện nay diện tích sử dụng giống lúa do Viện Lúa ĐBSCL chọn tạo đã đạt trên 2,4 triệu ha, chiếm 34,87% diện tích giống lúa của cả nước.

Ngoài ra, Viện còn xây dựng được 11 quy trình kỹ thuật được công nhận ở cấp Quốc gia, trong đó có 5 quy trình kỹ thuật canh tác lúa, 2 quy trình kỹ thuật canh tác cây trồng cạn luân canh với lúa và 4 quy trình phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Các tiến bộ kỹ thuật do Viện phát triển là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp kỹ thuật “Ba giảm, ba tăng” đang được nông dân trồng lúa áp dụng rộng rãi hiện nay…

Y học

Nghiên cứu và sản xuất thành công văcxin phòng bệnh cho trẻ em

Văcxin “ Rotavin-M1” là vắc xin sống giảm độc lực, uống phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 5 tuổi, được sản xuất từ chủng virut rota G1P trên tế bào Vero tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP thuộc Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế – Bộ Y tế.

Continue reading

Tượng giáo sư Ngô Bảo Châu ở Bình Dương

Pho tượng giáo sư Ngô Bảo Châu được đặt tại vị trí trang trọng trong một quán cà phê tại Đất Thủ, tỉnh Bình Dương. Nhiều người nhất là tầng lớp trí thức, sinh viên đã đến ngắm tượng.

Pho tượng giáo sư Châu có tư thế nhìn thẳng về phía trước, bàn tay trái đang chỉnh lại kính, trên tay phải cầm quyển sách, vai trái đeo medal giải thưởng Fields mà giáo sư Châu đã nhận tại Ấn Độ vào tháng 8 vừa rồi.


Pho tượng được nhiều người đến ngắm nhìn. Ảnh: Kiều Trinh.

Tượng có chiều cao gần 3m, chiều ngang gần 1 m. Phần đế được khắc chữ nổi “Giáo sư Ngô Bảo Châu – Huy chương toán học Fields 19.08.2010“.

Theo ông Phùng Minh Tâm, chủ quán cà phê Tình Bằng Hữu nằm trên đường Bác sĩ Yersin, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, đây là món quà sinh nhật lần thứ 42 của mình do một người bạn tặng vào tháng 9 vừa qua. Ông đã quyết định đặt tại quán nhằm cùng người dân trong cả nước tôn vinh những thành quả mà giáo sư Châu đã giành được khi đem về niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam.

Việc đặt tượng tại quán cũng là để mọi người dân, nhất là thế hệ trẻ nhìn đó như là tấm gương sáng về tinh thần hiếu học của dân tộc Việt Nam“, ông Tâm bày tỏ.

Continue reading

Ông hoàng vật lý lười học khi còn bé

Giáo sư vật lý thiên văn Stephen Hawking là một trong những bộ óc thông thái nhất hành tinh, song tới 8 tuổi ông mới biết đọc và học hành chểnh mảng khi tới trường.


Ông hoàng vật lý Stephen Hawking.

Báo Adelaide Now của Australia cho biết, Hawking diễn thuyết trước những người hâm mộ vào ngày 20/10 trong hội trường Royal Albert tại London, Anh. Trong buổi diễn thuyết ông kể nhiều điều về thời thơ ấu.

Chị gái Philippa biết đọc khi mới 4 tuổi và sau này chị ấy cũng thông minh hơn tôi”, Hawking bắt đầu câu chuyện.

Nhà vật lý thiên văn 68 tuổi thừa nhận rằng khi còn học ở trường phổ thông ông không phải là học sinh nổi trội và luôn xếp ở nửa cuối của lớp về thành tích học tập.

Những bài tập về nhà của tôi luôn được trình bày cẩu thả, còn chữ của tôi thì là nỗi thất vọng của các giáo viên. Nhưng các bạn cùng lớp lại gán cho tôi biệt danh Einstein. Có lẽ họ nhận thấy một thứ gì đó đáng chú ý ở tôi”, ông kể.

Mặc dù được trao bằng xuất sắc của Đại học Oxford danh giá, giáo sư nói với khán giả rằng ông “lười học đến mức khó tin” khi còn là sinh viên. Mỗi ngày Hawking chỉ dành khoảng một giờ để học.

Tôi không tự hào về sự lười học của bản thân mà chỉ mô tả quan điểm học hành của tôi hồi đó”, ông nói.

Ở tuổi 21, Hawking được chẩn đoán mắc chứng liệt cơ bắp do mất các tế bào thần kinh – còn gọi là bệnh Lou Gehrig. Những người mắc bệnh này hầu như mất hết khả năng cử động.

Khi các bác sĩ nói Hawking chỉ còn sống thêm vài năm nữa, ông dồn toàn bộ thời gian và tâm huyết cho các nghiên cứu khoa học. Kết quả là năng suất làm việc của nhà khoa học trẻ tăng vọt và nhiều thành tựu mang tính đột phá. Chẳng hạn, trong khoảng thời gian từ năm 1965 tới 1975, giáo sư Hawking phát triển một giả thuyết mà theo đó các hố đen xuất hiện sau Vụ nổ lớn (sự kiện khai sinh vũ trụ). Ông cũng cho rằng có một loại bức xạ thoát ra từ những ngôi sao chết. Giới khoa học gọi nó là “bức xạ Hawking”.

Khi đối mặt với nguy cơ chết sớm, bạn nhận ra rằng cuộc đời rất đáng quý và có nhiều thứ mà bạn muốn làm”, Hawking khẳng định.

Jim Al-Khalili, giáo sư vật lý của Đại học Surrey tại Anh, cũng tham gia buổi thuyết giảng của Hawking. Ông cho rằng trong trường hợp Hawking không mắc bệnh thì ông cũng vẫn trở thành nhà khoa học vĩ đại.

Điều hiển nhiên là căn bệnh khiến Hawking dành toàn bộ tâm trí cho nghiên cứu khoa học, song nếu không mắc bệnh thì ông ấy vẫn sẽ là một nhà vật lý hàng đầu”, Al-Khalili phát biểu.

Stephen Hawking được coi là ông hoàng vật lý lý thuyết của thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua. Ông nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về hố đen trong vũ trụ. Hawking cũng từng nỗ lực theo đuổi mục tiêu tìm ra một “lý thuyết thống nhất” để giải quyết các mâu thuẫn giữa thuyết tương đối của Albert Einstein và thuyết lượng tử. Hawking từng giữ vị trí giáo sư toán Lucasian tại Đại học Cambridge, Anh. Đây cũng là chức danh mà Newton từng đảm nhiệm. Ông hoàng vật lý nghỉ hưu năm ngoái.

Theo Vnexpress

Khoa học cơ bản và tương lai nước Nga (phần cuối)

Hai tháng sau khi nhận được bức thư ngỏ của trên 200 các nhà khoa học gửi tới lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước, Tổng thống D.A. Medvedev, Thủ tướng V.V. Putin và các lãnh đạo cao cấp khác của chính phủ Nga đã có phản hồi nhanh chóng và đưa ra những chính sách quan trọng về kế hoạch phát triển khoa học, kỹ thuật và giáo dục của đất nước trong những năm tới.

Continue reading

Tiến bộ mới của khoa học thần kinh

Nguyệt san tiếng Pháp La Recherche trong số kỉ niệm 40 năm ngày thành lập (5.1970-5.2010) có nhiều bài ôn lại những tiến bộ khoa học đáng chú ý trong 4 thập kỉ vừa qua.


Sự thống nhất nhiều ngành khoa học về
thần kinh giúp các nhà nghiên cứu hiểu
rõ hơn về não bộ của con người.

Jean-Pierre Changeux, Giáo sư danh dự ở Collège de France, đã trao đổi với La Recherche về các bước tiến quan trọng trong nghiên cứu bộ não con người ở thập niên 2000-2010.

Tiến bộ chính của các khoa học thần kinh trong thập kỷ 2000-2010 là gì?

Nét chính của các khoa học về bộ não trong thập kỷ này là chúng đã phát triển đồng thời trên nhiều mặt, từ sinh học phân tử cho tới khoa học xã hội, qua các nghiên cứu về thần kinh và về quá trình nhận thức, với kỹ thuật ảnh não. Song thay đổi thực sự có tính cách mạng là ở chỗ các chuyên ngành này đã liên kết với nhau để hình thành một khoa học thống nhất về trí óc, Khoa học thần kinh.

Trước kia, mỗi ngành tham gia khảo sát bộ óc một cách riêng rẽ (giải phẫu, sinh lý, hoá sinh, dược học, tâm lý học v.v.). Đầu thế kỉ 21, liên kết này mới bắt đầu được thực hiện, trước hết là do sự phát triển của sinh học phân tử: theo tôi, chuyên ngành này có vai trò chất men vì một bản chất của sinh học phân tử chính là nỗ lực thiết lập các mối tương quan nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức.

Ông có thể cho một ví dụ về vai trò xúc tác của sinh học phân tử?

Hãy xem xét quan niệm của chúng ta về các bệnh tâm thần. Cho tới gần đây, các chứng bệnh như tâm thần phân lập, tự kỷ hay trầm uất chủ yếu vẫn được mô tả bằng các triệu chứng gây ra bởi các yếu tố tâm lý và môi trường. Những dược chất hữu hiệu thực ra là tác động vào mục tiêu nào, người ta không biết rõ. Và người ta đổ lỗi cho tác nhân gây bệnh chính là gia đình và hoàn cảnh xung quanh những người bệnh.

Năm 2001, Daniel Weiberger và nhóm nghiên cứu của ông ở NIH (National Institutes of Health –Viện quốc gia Y học Hoa Kỳ, gồm 20 viện và 7 trung tâm nghiên cứu liên quan đến sức khoẻ con người) đã khám phá ra các gien có thiên hướng dẫn tới bệnh tâm thần phân lập. Năm 2003, một ê-kíp quốc tế trong đó có Thomas Bourgeron ở Viện Pasteur tham gia, đã xác định được những gien đầu tiên liên quan đến chứng tự kỷ. Những gien này có vai trò quyết định trong sự phát triển của các khớp thần kinh, là những nối kết giữa các nơ-rôn (tế bào thần kinh).

Cùng năm ấy, một nhóm nghiên cứu ở Phần Lan đã xác định một gien có trách nhiệm gây ra chứng khó đọc.

Tiếp đó, nhiều gien tương tự được khám phá. Và bây giờ, nhiều bệnh tâm thần được coi là có nguồn gốc di truyền, tức là có một thay đổi rất lớn về quan niệm. Không những gia đình và người bệnh trút bỏ được mặc cảm tội lỗi, mà thay đổi đó còn mở ra những cánh cửa mới trong việc tìm hiểu cơ chế của các bệnh ấy và tìm ra những phương pháp điều trị mới.

Những khám phá này sẽ dẫn tới điều gì?

Một trong những khám phá quan trọng mới đây là sự sinh sôi thường xuyên các tế bào mới thần kinh trong một bộ óc người lớn. Trước đây, người ta tưởng rằng chúng ta sinh ra với một số nơ-rôn nhất định.

Nhưng vào năm 2003, Pierre-Marie Lledo và ê-kíp của ông ở Viện Pasteur đã hiểu được sự phát sinh các nơ-rôn ở cấp tế bào. Họ đã chứng minh được rằng vài loại tế bào thần kinh đệm được biến đổi thành nơ-rôn và những nơ-rôn này phát triển rồi kết nối được không những với những nơ-rôn gần chúng mà với cả một hệ thống chức năng các thần kinh khứu giác: chúng được hấp dẫn tới vùng thành kinh này bởi một phân tử do hành não khứu giác tạo ra.

Năm 2008, cũng ê-kíp này đã chỉ rõ là sự phát sinh nơ-rôn này được tăng lên sau một tai nạn làm thương tổn đến khứu giác. Như vậy là một quan hệ nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức (ở đây là nhận thức về mùi vị) đã được chứng minh. Đó là một bước tiến lớn mở ra viễn tượng phục hồi chức năng: một ngày nào đó, có thể người ta sẽ phục hồi được những nhiều vùng bị thương tổn trong bộ não người với những tế bào gốc, chẳng hạn để điều trị bệnh Alzheimer.

Còn đóng góp của kỹ thuật hình ảnh não?

Về phương diện kỹ thuật, có một sáng tạo đặc biệt đáng chú ý, đó là kỹ thuật chụp ảnh bằng ten-xơ phân phối (1). Kỹ thuật này bắt đầu được sử dụng từ những năm 2000, dù rằng nó đã được Denis Le Bihan, phát triển từ nhiều năm trước.

Le Bihan nay là giám đốc của Phòng thí nghiệm NeuroSpin, thuộc Trung tâm Nguyên tử năng (CEA), Pháp. Kỹ thuật có tính đột phá này dựa trên sự phân phối các phân tử nước trong các mô não, cho phép nhìn trong không gian 3 chiều những kết nối của các vùng não. Nó bắt đầu được sử dụng để nhìn thấy được những hệ thống bị biến đổi sau một tai biến mạch não. Kết hợp với kỹ thuật ảnh cộng hưởng từ chức năng, nó cho phép thấy rằng hai vùng não cùng tham gia vào một nhiệm vụ thị giác luôn luôn có rất nhiều kết nối với nhau, dù rằng cái nhìn đó là tình cờ hay có chủ ý.

Kỹ thuật hình ảnh chức năng đó có phải cũng cho phép khảo sát ý thức?

Đúng vậy, hình ảnh chức năng mở ra khả năng nghiên cứu quá trình ý thức một cách khoa học. Cùng với Stanislas Dehaenne, Giáo sư của Collège de France, (2) chúng tôi đã đề xuất vào năm 1998 một lý thuyết về ý thức mà hình ảnh chức năng cho phép thử nghiệm. Lý thuyết này dựa trên ý tưởng là trong võ não, những nơ-rôn hình tháp với axon dài hợp thành một hệ thống nối kết với nhiều vùng não khác nhau để tạo ra một không gian lao động ý thức. Và sự đồng bộ hoá giữa các nơ-rôn này cho phép ý thức xuất hiện.

Lý thuyết này dẫn tới những thí nghiệm nhằm quan sát các khác biệt trong não giữa những ứng xử ý thức và vô thức. Năm 2001, Stanislas Dehaenne và các cộng sự của ông đã dùng hình ảnh chức năng để chỉ ra rằng chúng ta có thể cảm nhận được ý nghĩa của một từ mà không cần có ý thức là đang trông thấy nó: trong trường hợp này, các vùng não được kích động khác với những vùng não tham gia một xử lý thị giác có ý thức.

Đồng thời, hình ảnh chức năng cũng dẫn tới tiến bộ trong một lĩnh vực khác liên quan tới ý thức, về khả năng đồng cảm (hay tha giác) và các quan hệ xã hội, nhất là qua các công trình của Chris Frith ở UCL, thuộc Đại học Luân Đôn. Chris Frith đã nhận thấy rằng khi hai cá nhân có những rung cảm cộng hưởng với nhau thì các vùng não được kích thích là y hệt nhau và khả năng đồng cảm này không có ở những người bệnh tâm thần phân lập.

Một ví dụ khác, năm 2003, Bruno Wicker, ở Viện nghiên cứu khoa học thần kinh về nhận thức Địa Trung Hải, đã chỉ ra rằng khi một người quan sát một người khác đang bày tỏ một sự chán ghét gì đó, thì người đầu cũng kích thích những vùng não hệt như người kia.

Như vậy, nghiên cứu não bộ về những quan hệ xã hội có thể là một hướng trong tương lai?

Đúng thế, tôi nghĩ rằng đang có những dấu hiệu của một sự tổng hợp mới giữa khoa học thần kinh và các khoa học xã hội và nhân văn, và sự hội tụ này là thiết yếu để chiến thắng các bệnh tâm thần và đưa đến những hiểu biết nhiều hơn về con người.

(1) Nói gọn, đây là một cải tiến của kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (viết tắt tiếng Anh: MRI), sử dụng biến thiên của từ trường để vẽ lên bản đồ phân phối bất đẳng hướng của các phân tử nước trong óc.

(2) «Collège de France» là một Trường đại học nghiên cứu cao cấp rất đặc biệt của Pháp. Các giáo sư được bổ nhiệm vào đó đều là những nhà khoa học đã thành danh (thành viên các Viện hàn lâm khoa học, giải Nobel, giải Fields v.v.), có nhiệm vụ trình bày các « nghiên cứu hiện thời » của mình (không một giáo trình nào được phép lập lại), và người học thì tự do tới nghe giảng và tham dự các thảo luận, xê-mi-na được mở ra. «Trường» không cấp bất cứ một bằng cấp, chứng chỉ học tập nào.

Continue reading

Những điều nên biết về giải Nobel Y học

Alfred Nobel đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu y học. Thông qua Viện Karolinska, ông đã liên lạc với nhà sinh lý học người Thuỵ Điển Jöns Johansson vào khoảng năm 1890. Johansson đã đến làm việc trong phòng thí nghiệm của Nobel ở Sèvran, Pháp trong một khoảng thời gian vào năm đó. Sinh lý học hay Y học là lĩnh vực trao thưởng thứ 3 được Nobel đề cập đến trong di chúc của ông.


Một tấm huy chương giải Nobel được trưng bày. (Ảnh: Postmedia News).

Năm 1901, Emil von Behring Emil von Behring đã được trao tặng giải Nobel đầu tiên về Sinh lý hoc hay Y học vì công trình nghiên cứu về liệu pháp huyết thanh, đặc biệt vì tính ứng dụng của nó trong việc điều trị bệnh bạch hầu. Giải Nobel Y học về sau đã vinh danh hàng loạt khám phá quan trọng bao gồm cả thuốc penicillin, xây dựng bản đồ gen và phân loại máu.

Giải Nobel Y học do Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska trao thưởng hàng năm.

Số giải Nobel Y học

100 giải Nobel Y học đã được trao thưởng kể từ năm 1901. Tuy nhiên, tổng cộng đã có 9 lần giải thưởng đã không được trao tặng vào các năm 1915, 1916, 1917, 1918, 1921, 1925, 1940, 1941 và 1942. Tại sao lại như vậy? Trong quy chế của Quỹ Nobel có nêu rõ: “Nếu không có công trình nào nằm trong diện được xét duyệt, được cho là đủ tầm quan trọng như đề cập trong phần một thì tiền thưởng cho giải sẽ được dành lại cho năm sau. Nếu, ngay cả khi đó, giải thưởng không thể trao tặng được, số tiền thưởng sẽ được cộng dồn vào các quỹ giới hạn của Quỹ Nobel“. Trong Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai, số giải thưởng Nobel có chủ cũng ít hơn.

Những con số thống kê ấn tượng về giải Nobel Y học

37 giải từng được trao cho một người thắng giải duy nhất.

31 giải từng được trao cho hai người đồng thắng giải.

32 giải từng được trao cho ba người đồng thắng giải.

Tại sao lại như vậy? Quy chế của Quỹ Nobel có nêu rõ: Giá trị giải thưởng có thể được chia đồng đều cho hai công trình, mà mỗi công trình được xem là xứng đáng được trao giải. Nếu một công trình được trao giải do 2 hoặc 3 người làm nên thì giải thưởng sẽ được trao chung cho họ. Không có trường hợp nào giá trị giải thưởng bị chia sẻ cho hơn 3 người trúng giải.

Các chủ nhân của giải Nobel Y học

195 cá nhân đã nhận giải Nobel Y học kể từ năm 1901 và không ai trong số này từng được trao giải 2 lần.

Trong số các chủ nhân của giải Nobel Y học, chỉ có 10 người là nữ và Barabara McClintock là nhà nữ khoa học duy nhất không phải chia giải Nobel Y học danh giá với ai.

Cho tới thời điểm hiện tại, chủ nhân trẻ nhất của giải Nobel Y học là Frederick G. Banting. Ông Banting đã được trao giải năm 1923 khi mới 32 tuổi.

Ngược lại, người cao tuổi nhất từng nhận giải là Peyton Rous. Ông trở thành chủ nhân giải Nobel Y học năm 1966 khi đã 87 tuổi.

Người giành giải Nobel Y học sống thọ nhất là Rita Levi-Montalcini. Bà từng trở thành chủ nhân giải Nobel năm 1986 và đã kỉ niệm sinh nhật lần thứ 100 của mình vào ngày 22/4/2009.

Không có giải Nobel Y học nào được trao cho một nhà khoa học đã qua đời. Từ năm 1974, quy chế của Quỹ Nobel khẳng định, không giải Nobel nào được trao cho người đã khuất, trừ khi cái chết đó xảy ra sau khi có tuyên bố họ thắng giải. Trước năm 1974, giải Nobel chỉ được trao cho người đã khuất hai lần: Dag Hammarskjöld (giải Nobel Hoà bình năm 1961) và Erik Axel Karlfeldt (giải Nobel Văn học năm 1931).

Có một nhà khoa học từng bị nhà chức trách nước mình cấm nhận giải Nobel Y học: Trùm phát xít Adolf Hitler đã cấm 3 nhà khoa học Đức nhận giải Nobel, kể cả Gerhard Domagk – người được trao giải Nobel Y học năm 1939. Hai nhà khoa học còn lại đều giành giải Nobel trong lĩnh vực Hoá học là Richard Kuhn năm 1938 và Adolf Butenandt năm 1939. Tất cả những nhà khoa học này sau đó có thể nhận huy chương và bằng chứng nhận đoạt giải Nobel, ngoại trừ tiền thưởng.

Những chủ nhân giải Nobel Y học trong một gia đình

Vợ chồng: Gerty Cori và Carl Cori được đồng trao giải Nobel Y học năm 1947

Cha và con: – Hans von Euler-Chelpin (Nobel Hoá học) và Ulf von Euler (Nobel Y học)

                    – Arthur Kornberg (Nobel Y học) và Roger D. Kornberg (Nobel Hoá học)

Anh em: Jan Tinbergen (Nobel Kinh tế) và Nikolaas Tinbergen (Nobel Y học)

Continue reading

GS Ngô Bảo Châu và bổ đề Langlands

Những ngày gần đây cả dân tộc hân hoan về việc GS Ngô Bảo Châu – nhà toán học Việt Nam nhận giải thưởng toán học danh giá nhất trên thế, huy chương Fields. Nhiều người muốn biết nội dung công trình của anh, nhưng đây là việc không dễ dàng. Chúng tôi chỉ có thể cung cấp cho bạn đọc một số cách diễn đạt sơ lược và dễ hiểu nhất về vấn đề này.

Continue reading